Ông đồ 8x và thư pháp chữ Việt

(VOV) – Những người trẻ làm ông đồ rất thú vị, họ đã tìm về truyền thống và thưởng thức cái đẹp của văn hóa truyền thống.

Thư pháp mà đặc biệt là thư pháp Việt ngày nay đang lôi cuốn không ít những bạn trẻ tìm đến. Kết hợp môn nghệ thuật cổ điển với nét phá cách của tuổi trẻ, họ đã tạo nên một thế hệ ông đồ mới – ông đồ @ – với những “anh đồ” mặc quần bò, áo phông ngồi cho chữ.

 

Ông đồ Phan Văn Kiền và niềm đam mê thư pháp

Cháy bỏng niềm đam mê thư pháp

Phan Văn Kiền là một 8x năng động, không chỉ là giảng viên khoa báo chí, Đại học KHXH và NV, cộng tác viên thường xuyên của báo Tiền Phong mà anh còn là một thi sĩ và độc đáo nhất có lẽ chính là một “anh đồ”!

Khi được hỏi, là một người trẻ, tại sao anh lại theo đuổi nghệ thuật thư pháp – môn nghệ thuật vốn được coi là của những người xưa cũ, anh chỉ mỉm cười. Anh kể cho tôi nghe về những ngày tháng khó khăn khi mới ra đời của thư pháp Việt – vấp phải sự phủ nhận của những người đam mê thư pháp Hán. Họ cho rằng đây không phải là nghệ thuật chân chính, rằng chỉ có chữ Hán – chữ tượng hình mới có thể viết thư pháp. Phan Kiền lại có suy nghĩ khác. Anh tâm sự: “Người trẻ Việt biết chữ Việt từ năm 6 tuổi, họ hoàn toàn có quyền viết chữ Việt bằng nghệ thuật với sự liên tưởng sâu sắc chứ không phải chỉ viết chữ thật đẹp bằng bút bi. Nghệ thuật nằm trong sự chấp nhận của công chúng”.

Ngay từ nhỏ, khi được xem một số chữ Hán do bố viết, Phan Kiền đã bắt đầu nảy sinh niềm yêu thích thư pháp. Đến năm 2001, nhìn thấy một tờ lịch viết bằng thư pháp Việt, anh thấy rất lạ và ngay lập tức bị thu hút. Phan Kiền bỏ ý định học thư pháp Hán chuyển sang thư pháp Việt.

Thế nhưng, ở miền quê nghèo Nghệ An lúc bấy giờ, kiếm được chiếc bút lông là điều không dễ dàng. Bởi vậy, anh đã dùng que tre vót nhọn dập nát đầu để làm ngòi bút, tập viết lên tờ nháp. Tiếp đó, anh chuyển sang dùng bút dạ (loại bút thường dùng để vẽ). Và cứ thế, với tình yêu và niềm đam mê, anh đã tự mình học hỏi rèn luyện tay nghề.

Sau này, khi xuống Vinh, anh mới có điều kiện mua 2 quyển sách dạy thư pháp Việt. Bởi vậy, với Phan Kiền, ông thầy duy nhất chính là lòng đam mê, kiên trì và 2 quyển sách.

 

Chữ “Mẹ” được viết theo thể Thuỷ

Những ngày còn trên giảng đường đại học, mỗi khi thấy anh cầm giấy, bút, nghiên mực, nhiều sinh viên đã chạy theo xin chữ của anh. Cũng có nhiều người theo anh học chữ, thế nhưng không phải ai cũng đủ kiên trì.

Anh tâm sự: “Để đến với thư pháp Việt cần có tình yêu sâu đậm với tiếng Việt, phải biết nâng niu trân trọng từng nét chữ bởi mỗi nét chữ là một mảnh hồn Việt, phải đam mê với nghệ thuật viết chữ và đặc biệt là sự kiên trì, khổ luyện. Nếu không có sự đam mê thì không thể theo được nghiệp thư pháp”.

Bởi lẽ, với thư pháp Việt, ngay cả cách cầm bút lông thế nào cho đúng cách, cho vững tay cũng mất vài tháng đến nửa năm luyện tập. Tiếp đó, phải luyện từng nét theo bộ nét 10 chữ, rồi luyện từng chữ cái, ghép vần, viết thành câu. Nhưng như thế chưa đủ, cái khó khăn nhất là tạo bố cục cho câu trong một bức chữ làm thế nào cho hợp lý và đẹp.

Tình yêu thư pháp Việt cùng những năm tháng rèn luyện không ngừng nghỉ, Phan Kiền đã tạo dựng cho mình một phong cách viết độc đáo theo thể Thủy: Các nét chữ trong một chữ không chạy ngang theo nguyên tắc của chữ quốc ngữ  thông thường mà chạy dọc từ trên xuống dưới tựa một thác nước đang chảy. Khi anh viết, động tác hơi “cuồng”. Trước lúc đặt bút, anh thường trầm ngâm, nhưng khi đặt bút viết rồi, nét chữ lên xuống và bố cục trên giấy của anh rất nhanh.

Và cứ thế, bằng niềm đam mê cháy bỏng của mình, Phan Kiền đã góp phần giúp thư pháp Việt tồn tại và phát triển, duy trì một nét đẹp của văn hóa dân tộc để cho thư pháp không phải rơi vào “một thời vang bóng”.

 

Nhóm ông đồ thời @

Ông đồ @ – Sự kết hợp truyền thống và hiện đại

Nhóm “Ông đồ @” được hình thành một cách rất ngẫu hứng khi Phan Kiền – ông đồ áo phông, quần bò gặp gỡ Thanh Bình – ông đồ “quần Tây, áo sơ mi” (sinh viên Đại học Mở, bút danh Khúc độc hành) và Lương Tuấn Dũng – ông đồ mang màu áo lính (HV Biên phòng, bút danh Trúc Phong).

Ba chàng trai trẻ yêu chữ Việt ấy đã tình cờ gặp nhau trên diễn đàn honchuviet.com và phát hiện cùng là đồng hương xứ Nghệ. Từ đó, cả 3 thường tới nhà nhau trao đổi, luyện tập thư pháp. Tuấn Dũng đang học tập trong môi trường quân đội song anh vẫn tranh thủ từng ngày nghỉ để hội ngộ cùng bạn bè.

Chia sẻ về cái tên Ông đồ @, Phan Kiền bật cười thú vị. Ban đầu nhóm anh định đặt tên là Ông đồ xứ Nghệ nhưng anh thấy rằng cái tên ấy hơi “già”. Và anh đề xuất cái tên ông đồ @ để thể hiện sự hòa đồng, dân dã. Quan trọng nhất, ông đồ và @ gợi cảm giác truyền thống và hiện đại, kết hợp giữa vẻ đẹp xưa và thời đại công nghệ thông tin. Cái tên ấy cũng chính là thông điệp mà anh muốn nhắn gửi: “Những người trẻ làm ông đồ rất thú vị, họ đã tìm về truyền thống và thưởng thức cái đẹp của văn hóa truyền thống”.

Thực trạng thư pháp Việt

Phan Kiền bỗng trở nên trầm ngâm khi chia sẻ những suy nghĩ của mình về thực trạng một bộ phận giới trẻ hiện nay đang dần lãng quên văn hóa truyền thống. Anh cho rằng bản thân người trẻ không có lỗi. Vấn đề nằm ở chỗ, họ không được trang bị bản lĩnh tiếp nhận văn hóa cần thiết, thế nên họ đã vô tình bỏ quên nền văn hóa truyền thống. Bởi vậy, cần phân tích để họ hiểu và có sự lựa chọn đúng đắn.

Một thực tế nữa, hiện nay, thư pháp Việt chưa có một hệ thống lý luận trọn vẹn đầy đủ như thư pháp Hán, chưa có sự định hướng rõ ràng về thể loại, về cách viết, ai thích thể hiện thế nào thì viết thế ấy. Phong trào thư pháp Việt tuy rầm rộ nhưng loãng, ai cũng có thể viết rồi đi bán, có tác phẩm thư pháp không có chất lượng nhưng người mua không biết.

Riêng bản thân Phan Kiền, anh đến với thư pháp bằng tình yêu, niềm đam mê chứ không định kiếm sống bằng thư pháp. Bởi thế, anh chỉ hy vọng mình có đủ đam mê tới cùng để tìm tòi, phát hiện những điều hay, sự mới lạ của nghệ thuật thư pháp. Anh cũng mong rằng, những người trẻ hãy đến với thư pháp bằng một thái độ nghiêm túc, cầu thị và một tình yêu thực sự.

Chào tạm biệt tôi, “anh đồ” quần bò áo phông ấy lại tất bật với vai trò giảng viên, cộng tác viên của mình giữa những ngày tháng 6 nóng bức của đất trời Hà Nội. Để rồi, những phút giây rảnh rỗi, anh lại cùng các bạn thả hồn theo từng con chữ với sự kiên trì không ngừng nghỉ./.

Thanh Nga

THƯ PHÁP HIỆN ĐẠI VIỆT NAM – LỐI ĐI MỚI MỞ

Không thể phủ nhận vài năm trở lại đây, những cụm từ như: thư pháp hiện đại, thư pháp tiền vệ, thư pháp hành vi, sắp đặt thư pháp,… bắt đầu có được sự chấp nhận của đông đảo cộng đồng yêu thích bộ môn nghệ thuật thư pháp nói riêng và cộng đồng thưởng thức, phê bình nghệ thuật, mỹ thuật nói chung. Tuy nhiên, để giải thích cặn kẽ từng khái niệm trong cả một hệ thống các khái niệm về nghệ thuật hiện đại, về các loại hình thư pháp hiện đại cần có thêm rất nhiều thời gian và kiến thức. Nhưng quan trọng hơn là những người chủ động mang thư pháp hiện đại vào Việt Nam đã “ấn định” vào đầu những người quan tâm đến thư pháp nước nhà rằng: có 1 loại thư pháp như thế, nó là một điều tất yếu xảy đến khi xuất hiện những nhân tố mới, sự giao lưu và hợp tác quốc tế đa diện về văn hóa, sự bùng nổ của các phương tiện thông tin đại chúng…và quan trọng nhất là sự thay đổi từ trong chính nội tại những người thực hành thư pháp ở Việt Nam. Điều này cũng có nghĩa là đường lối và chính sách mới về văn hóa của chúng ta đã bắt đầu đi vào cuộc sống, khuyến khích được sự tự do sáng tạo, tiếp cận với các nền văn hóa hiện đại và tiên tiến khác trong khu vực và trên thế giới để tạo ra những giá trị văn hóa mới, làm giàu có đời sống văn hóa của dân tộc.

Có thể lấy mốc 2006 với triển lãm thư pháp ngũ thể chữ Nôm “Hồn thu thảo” diễn ra ở Văn miếu quốc tử giám hà nội làm khởi đầu cho trào lưu thư pháp hiện đại ở Việt Nam. Tiếp sau đấy, dồn dập 2 năm 2007 và 2008 là những triển lãm, sắp đặt, hành vi thư pháp hiện đại khác như: “Chữ”, “Tôi nghe như thế này”, “Vũ hội chữ”, trình diễn thư pháp hành vi tại Thiền quán, “Điện tâm đồ” ở trung tâm văn hóa Pháp tại Hà Nội, giao lưu với Hiệp hội thư pháp hiện đại Đông Dương của Nhật Bản… đã làm phong phú thêm đời sống hoạt động của loại hình nghệ thuật thư pháp ở Việt Nam. Trong khi đó các dòng thư pháp chủ lưu truyền thống không có những hoạt động làm đối trọng, khiến cho thư pháp hiện đại hoạt động và phát triển “nóng” trên mức bình thường, hầu hết các hoạt động thư pháp trong 2 năm 2007 và 2008 là những hoạt động của thư pháp hiện đại. Cũng đã có nhận định ngoài lề rằng “chỉ có thư pháp hiện đại là đang làm việc”, trong một chừng mực nào đấy, nhận định này cũng phần nào nêu được tình hình thiên lệch của thư pháp Việt Nam.

Từ trước cho đến nay, khi nói đến thư pháp, đa phần chúng ta thường chỉ có hai khái niệm trong đầu là thư pháp cổ điển Hán Nôm và Thư pháp quốc ngữ, hầu như tất cả các phương tiện thông tin đại chúng của chúng ta tập trung vào hai khái niệm này mà chưa từng nhắc đến các khái niệm như thư pháp tiền vệ, thư pháp hiện đại, họa hoằn lắm mới nhắc đến cuộc triển lãm thư pháp hiện đại của Nhật Bản do hội thư pháp Manichi tổ chức lần đầu tiên ở Việt nam tại Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam vào năm 2003, tuy thế sự kiên này thoảng qua nhanh vì chúng ta lúc đó chưa đủ nội lực để giao lưu cũng như đối thoại với họ về vấn đề này, chỉ thấy phía Nhật Bản phô diễn khái niệm thư pháp hiện đại một chiều và đọng lại rất ít trong tâm thức của những người học tập, thực hành thư pháp ở Việt Nam.

Sự xuất hiện của nhóm thư pháp hiện đại đầu tiên tại Việt Nam – Zenei gang of five – gồm 5 thành viên: Lê Quốc Việt, Nguyễn Quang Thắng, Nguyễn Đức Dũng, Phạm Văn Tuấn, Trần Trọng Dương với chủ thuyết và thực hành việc đưa thư pháp hiện đại vào Việt Nam đã khiến hiện trạng thư pháp nước nhà có thêm một dòng thư pháp mới song song tồn tại với thư pháp cổ điển Hán Nôm và thư pháp Quốc ngữ. Bản thân nhóm này xuất phát điểm từ nền tảng thư pháp cổ điển Hán Nôm, các thành viên được đào tạo bài bản và chính quy về Hán Nôm, văn hóa truyền thống, họ viết thư pháp cổ điển hán nôm ban đầu hết sức tự nhiên theo bản vị tính rồi bỗng một ngày họ chợt ngẩng lên thì thấy thư pháp hiện đại của “người ta” nhiều như rừng, mà sao người ta “tự do” thế, người ta “sung sướng” thế, mà sao người ta nói được nhiều chuyện thế. Còn ta thì sao, ta đã mất đi chỗ dựa quan trọng nhất là văn tự Hán Nôm đã bị đoạn tuyệt quá lâu rồi. Họ chợt nhận ra rằng, họ đã đóng kín quá lâu, trái tim và nhịp thở của họ không cùng đồng điệu với đời sống tinh thần xã hội hiện tại, không bắt kịp với đời sống nghệ thuật đương đại của khu vực và thế giới, họ đang viết, đang làm cái gì ấy, cái ấy tốt thôi, truyền thống văn hóa mà, tốt thôi nhưng chưa thể đủ, hình như họ đang dối lòng mình. Và họ chuyển hướng. Điều này chi có thể giải thích sự thèm khát tự do của Zenei gang of five, sự trỗi dậy của tự do trong con người mỗi thành viên nhóm. Cái họ vươn tới là sự giải phóng tư duy, đề cao con người cá nhân, nói những câu chuyện trung thực của xã hội để không phải ân hận vì dối lòng mình với phương châm “mỗi người chỉ có một câu chuyện để kể mà thôi, đó chính là câu chuyện của chính mình”. Những tác phẩm theo phong cách thư pháp hiện đại của họ đã nói lên được những điều ấy.

Trong năm 2010, tiếp tục những dự định đã hình thành và những nung nấu nội tâm, Zenei gang of five đã trình hiện những tác phẩm, tổ hợp tác phẩm thư pháp hiện đại tiệm cận dần đến những tiêu chí về nghệ thuật hiện đại.

Có thể kể đến triển lãm sắp đặt  mang tên “Vô ngôn” Nhân dịp tết Canh Dần, kỷ niệm đại lễ nghìn năm Thăng Long Hà Nội  04/02 đến 05/3/2010 tại Art Việt Nam Gallery. Đây là triển lãm tiếp nối ý tưởng lấy chữ Nôm làm bản vị tính cho văn hóa Việt Nam trong đời sống hiện tại. Xuất phát từ sự bất lực trong ngôn từ, sự thất bại trong việc hòa nhập văn tự Hán Nôm với xã hội hiện tại đã tạo nên những dồn nén nội tâm, nhóm đã chuyển từ thư pháp cổ điển sang thư pháp Tiền vệ một cách triệt để, có thể coi đây là động thái văn hóa chuyển từ lĩnh vực thư pháp truyền thống sang nghệ thuật đương đại. Ban đầu, chữ Hán và chữ Nôm được coi như là chất liệu để tạo nên những tác phẩm trang trí hay trừu tượng. Và khi sự trừu tượng hóa trở nên lấn át hình thể con chữ, thư pháp không còn dùng để đọc nữa mà chỉ còn là cái cớ để cảm nhận về cái đẹp và hơn hết là sự cảm nhận và biểu đạt về cuộc sống. Tại triển lãm lần này, văn tự hầu hết đã bị vứt bỏ. Sáng tác không chỉ khuôn trong việc dụng bút viết chữ. Viết hay không viết đều là cách để tạo ra những đường nét không lời.

Triển lãm thư pháp và sắp đặt Vô ngôn là dạng bút đàm “tự ngôn tự ngữ” về văn hóa dân tộc. Nguyễn Quang Thắng thực thi ghi chép, ken đặc đến mức trở thành…phi văn bản. Nguyễn Đức Dũng trăn trở với vài con chữ, nhưng những loang chảy ánh sáng trong từng nét bút khiến tác phẩm đạt đến ngưỡng…giải văn tự. Phạm Văn Tuấn vẫn bảo lưu cách viết, song đã trừu tượng hóa hoàn toàn. Trần Trọng Dương hướng đến sự triệt bỏ nhân vi, xóa sạch nét bút, cực đoan đến mức “vô thư vô pháp”. Có thể nói, nội hàm tác phẩm chấp chới bằng tính biểu trưng của các phù hiệu học ngôn ngữ và các yếu tố phi phù hiệu học. Trong khi đó, sắp đặt của Lê Quốc Việt quay lại cách sao chép chữ Hán Nôm truyền thống. Những trích đoạn văn tự trên đĩa gốm được kết hợp lại thành một bức thư pháp lớn có chuyển động và phát ra âm thanh, tạo nên sức sống giả cho những con chữ đã chết. 40 tác phẩm tĩnh và 5 tác phẩm sắp đặt trong triển lãm Vô ngôn của họ hy vọng khai quật trong trầm tích tri thức quá khứ cũng như ngay trong đời sống thực tại những giá trị nhân bản, ngõ hầu kiến giải và phát lộ nó theo một chiều kích tích cực như một sự tái đầu thai các giá trị văn hóa vào trong đời sống hiện đại.

Thành viên Lê Quốc Việt đã tiến một bước dài và hiện đại khi thực hành triển lãm mang tên Mật ngữ (Secret Mantra) ngày 14/8/2010 tại Indochina Arts Partnership, 49 Glen Road, Wellesley, MA 02481 (Mỹ). Anh đã xác định trạng huống mất gốc văn tự của một dân tộc và mạnh dạn thực hành nghệ thuật Văn tự – Thư pháp như là một cố gắng ngoại biệt không nằm trong dòng chảy nghệ thuật chủ lưu của Việt Nam. Bằng việc vay mượn và biến thể hình ảnh cột kinh thời Đinh thành những ống phướn chiếu sáng, đồng thời tập trung khai thác hiệu quả thị giác qua nghệ thuật thư pháp chữ Hán được viết lên ống vải, đặc biệt là chữ Nôm – một biệt thể văn tự do người Việt sáng tạo trong quá khứ. Sau đó đặt nó vào trong không gian triển lãm ngoài trời. Đồng thời, việc khách mời tham gia và trở thành thành phần hữu cơ tạo nên chỉnh thể tác phẩm giữa chuyển động và sắp đặt cũng là điều mà Lê Quốc Việt mong muốn thử nghiệm.

Triển lãm “Thư pháp Trứng –Rồng”của hai thư pháp gia Nguyễn Quang Thắng và Trần Trọng Dương diễn ra từ ngày 2/9 tới ngày 5/9/2010 tại Thiên đường Bảo Sơn đã gây được ấn tượng mạnh trong lòng công chúng. Sử dụng 1000 quả trứng để viết lên 1000 chữ Long theo các thể chữ khác nhau: chân, thảo, lệ, triện…, kết hợp nghệ thuật sắp đặt, cộng đồng với nghệ thuật thư pháp Hán Nôm cổ truyền, tác phẩm không những mang lại một hơi thở mới cho nền thư pháp Việt mà còn là một công trình có ý nghĩa trong những ngày cả nước đang hướng về Lễ kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.

Lấy hình tượng những thân rồng uốn lượn nhịp nhàng theo phong cách thời Lý thử nghiệm thị giác trên mặt cầu làm âm hưởng chủ đạo, nhóm tác giả đã mang tới cho công chúng cách thưởng thức đa diện, từ nhiều góc độ khác nhau. Những con chữ đã dược làm mới bằng những cấu trúc biến thể đa dạng trên mặt cầu. Nếu tách ra, mỗi quả trứng là một tác phẩm thư pháp độc lập. Nhưng khi kết hợp lại với nhau, quẩn thể Trứng – Rồng ấy đã trở thành một tác phẩm sắp đặt tạo hiệu quả thị giác ấn tượng.

Cái mới bao giờ cũng khó được chấp nhận ngay và cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ là chuyện của muôn đời. Ngay bản thân thư pháp hiện đại trung Quốc khi mới bắt đầu từ những năm giữa thập kỷ 80 của thế kỷ 20 và thậm chí đến tân bây giờ vẫn bị dòng thư pháp cổ điển chủ lưu “phân biệt đối xử”. Điều này thật sự khó nói vì bản chất vấn đề này thuộc về tư duy nhận thức của những người thuộc dòng chủ lưu.

Con đường thư pháp hiện đại ở Việt Nam đã mở, rộng thênh thang cho những người tiên phong nhưng cũng là những thách thức không nhỏ đối với họ. Để tồn tại và khẳng định trong một môi trường văn hóa giao lưu rộng khắp và toàn diện, không còn cách nào khác là phải tự trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, hoàn thiện lý thuyết, lý luận, không ngừng học hỏi, tìm tòi sáng tạo cái mới. Tuy vậy, bản thân họ cũng biết: những giá trị truyền thống luôn là bệ đỡ vững chắc nhất, sáng tạo trên nền tảng giá trị và tinh hoa văn hóa dân tộc, đi tới hiện đại từ truyền thống là phương châm và tôn chỉ mục đích của zenei gang of five

Thư Pháp _ Thú vui thời hiện đại

Vài năm gần đây, những ngày giáp Tết, Hà Nội lại tấp nập người đi xin chữ. Người sành sỏi phải đến nhà xin bằng được chữ của cụ Hòa, cụ Bách, cụ Quảng, còn ra Văn Miếu, người ta cũng dễ gặp những “ông đồ” trẻ tuổi trải chiếu ngồi cho chữ. Nét chữ đẹp, khéo, không kém phần cứng cỏi, họ chỉ ở lứa tuổi ngoài 20.

Nói đến thư pháp thì ai cũng nghĩ ngay đến hình ảnh ông đồ áo dài, khăn đóng, nghiêm trang múa ngọn bút lông để tạo nên những nét chữ mực Tàu thần kỳ trên tấm liễu đỏ. Những nghệ sĩ thư pháp người Hoa xuống “tấn” dùng “nội công” bay nhảy như phim kiếm hiệp để viết trên những tấm liễu, tấm phướn khổ rộng dài cả chục thước. Nghệ thuật thư pháp thường gắn liền với “sự di dưỡng tinh thần”, người viết chữ phải dùng ý chí đặt vào đầu ngòi bút. Cái tâm phải tĩnh mới thổi được hồn cốt vào mỗi nét chữ. Nghề chơi lắm công phu nên người ngoài nhìn vào thứ nghệ thuật cao khiết đó chỉ “kính nhi viễn chi”. Người trẻ tuổi lại càng “e ngại” bởi dùng nhãn tiền để ngắm đã là điều không đơn giản, huống chi việc “nhập môn”.

Nhưng có điều lạ, ngay trên đất Hà thành người ta dễ gặp những người trẻ tuổi dám mạo hiểm như thế. Đào Thái Hồng Phúc, người đoạt giải thưởng Tài năng trẻ thư pháp tại Festival Huế 2004, mới bước vào tuổi 30 nhưng tên anh đã được những người sành chơi biết đến. Niềm đam mê thư pháp đến với anh khi còn là một cậu bé. Mặc bạn bè gán cho mình những biệt hiệu “hâm”, “dở hơi”, anh tự tìm tòi mọi sách vở học Hán Nôm, rồi luyện thư pháp. Đào Thái Hồng Phúc không nhớ những nét chữ đầu tiên đã lấy đi của anh bao nhiêu giấy mực, thời gian và tâm lực. Anh tâm sự: “Mọi người thường bảo sao mình cứ sống như ông già, vô vị như thế. Không bạn bè, thú vui gì, chỉ quay quẩn với mấy cái chữ viết đi rồi viết lại. Nhưng khi đến với thư pháp mới thấy, phải mất cả đời để hiểu được nó, và có lẽ phải tốn thêm vài trăm năm mới có thể nhận mình là nhà thư pháp”.

Bản chất chữ Hán có yếu tố tạo hình nên qua nhiều thế kỷ, người Trung Quốc sáng tạo ra các loại chữ viết theo các kiểu khác nhau. Về cơ bản có Tứ thảo: Chân, Thảo, Lệ, Chiết, và ở mỗi loại, người viết lại phải học lại từ đầu từng bộ thủ hay cách viết. Rồi phải tuân theo Tam pháp, trong đó bút pháp với từng nét cơ bản từ ngang bằng sổ thẳng, tự pháp là kết cấu của từng chữ và rộng hơn là chương pháp. Một nghệ thuật đòi hỏi nhiều, khắt khe như thế cho nên cũng rất kén người chơi.

Người có tài chữ không chỉ dừng lại ở việc viết chữ đúng, luyện quen tay, người viết ngoài một số nguyên tắc chung còn thể hiện sự sáng tạo và tính cách trong nét chữ. Anh Tuấn, một người đến với thư pháp Hán Nôm khá muộn, cho biết: “Các cụ nói nét chữ là nét người, cho nên nếu tinh ý xem chữ cụ Hòa viết sẽ khác với chữ cụ Quảng. Có những người viết chữ rất bay, nhưng có người lại có kiểu viết chắc, tuân thủ các đường nét rõ ràng. Và nếu là người nóng vội, nhiều tính toán thì sẽ không bao giờ viết được”.

Các “ông đồ” thời hiện đại không áo the khăn xếp như ngày xưa nhưng khi đã “vận” mình vào thú chơi này dường như họ cũng tìm lại được chính bản thân. Anh Nguyễn Văn Thức, cử nhân khoa Hán Nôm, trường ĐH Khoa học xã hội Nhân văn, nói: “Từ ngày luyện viết thư pháp, tôi cảm thấy những suy nghĩ của mình có chiều sâu hơn và hiểu hơn giáo lý của đạo Phật. Lúc hướng được ngòi bút theo sự điều khiển của lý trí thấy mình đi được vào tận cùng con người mình”. Câu nói có vẻ già trước tuổi ấy lý giải vì sao để tạo nên một bức thư pháp chỉ với một chữ “Nhẫn”, “Tâm” hay “Đức”… người viết lại phải khổ luyện, tốn nhiều giấy mực đến thế.

Theo lời cụ Hòa, người viết chữ đẹp có tiếng hiện nay chỉ có khoảng hơn chục người trẻ tuổi thực. Trong nhịp sống gấp gáp của cuộc sống thời hiện đại, những Đào Thái Hồng Phúc, Đức Dũng, Nguyễn Thanh Sơn… vẫn âm thầm tìm cho mình một lối đi riêng. Họ không coi thư pháp là một nghề để kiếm sống nhưng dành cho nó phần lớn thời gian và công sức. Anh Thức vẫn ở nhà thuê, làm đủ mọi công việc từ dịch thuật đến viết bia, dạy thêm, tối về lại lem nhem cùng giấy mực. Hồng Phúc theo y học cổ truyền và giờ đây, anh có cửa hàng nho nhỏ bốc thuốc Đông y. Nhiều người biết đến tên tuổi anh đã tìm đến nhà theo học thư pháp, cả người đã có tuổi và không ít thanh niên. Một lớp học khoảng hơn hai mươi người cũng giúp anh tăng phần thu nhập. Đặc biệt vào dịp lễ tết, có dịp trổ tài “múa chữ”, Phúc có thể kiếm vài chục triệu từ chính sở thích “kỳ quái” mà anh đã công phu luyện tập. Anh tâm sự đầy lạc quan: “Khi tôi theo học thư pháp Hán Nôm, bố mẹ đều can ngăn, bảo bây giờ làm gì còn ai quan tâm đến loại chữ nghĩa ấy nữa. Nhưng tôi tin trong vài năm nữa, nghệ thuật này sẽ phát triển mạnh. Giới trẻ khi đã biết được một điều gì đó về thư pháp, họ sẽ rất quan tâm”.

Những người mê thư pháp thường chọn cho mình một thú vui để cân bằng cuộc sống. Người chơi đàn, người thích vẽ tranh, nghe nhạc. Có điều, họ là một số ít người dám chấp nhận thú chơi thử thách cao, đòi hỏi sự công phu và kiên nhẫn. Một thứ nghệ thuật không dành chỗ cho những tham vọng vật chất, và vô tình họ trở thành những người níu giữ lại nét đẹp văn hóa ngàn xưa của dân tộc. Nét đẹp mà gần một thế kỷ trước nhà thơ Vũ Đình Liên từng lo lắng: “Những người muôn năm cũ/ hồn ở đâu bây giờ”. Ngày hôm nay, ông đồ thời hiện đại sẽ không phải chứng kiến cảnh “Giấy đỏ buồn không thắm/ mực đọng trong nghiên sầu”. Xã hội đang tìm lại họ, và nghệ thuật thư pháp sẽ không còn là quá vãng.

Các tin tiếp theo:

  • Thư pháp hiện đại Việt Nam – lối đi mới mở (07/03/11 – 20:39)
  • Thư Pháp _ Thú vui thời hiện đại (03/03/11 – 19:42)
  • Nghệ thuật thư pháp, phong vị ngày xuân (18/02/11 – 06:33)
  • Nghệ thuật thư pháp, phong vị ngày xuân (18/02/11 – 06:30)
  • Ngày xuân, tản mạn cùng thư pháp (09/02/11 – 06:50)
  • Ông đồ xuống phố Sài Gòn (24/01/11 – 22:42)
  • Hồn Việt qua nghệ thuật thư pháp Lê Lân (14/01/11 – 06:14)
  • Người “vẽ” hồn thư pháp (03/01/11 – 16:04)
  • Ngày xuân nói chuyện thư pháp (27/12/10 – 09:03)
  • Chữ của ngày xuân (20/12/10 – 06:5